6 biện pháp để giúp học sinh cấp 3 tự học tôt hơn|Dành cho thầy cô - Hương Lúa - Thông tin tổng hợp

Tin nổi bật

Kỹ năng tự học dành cho học sinh cấp 3

Phát triển kĩ năng tự học giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức nhân loại, biến kiến thức xã hội thành kiến thức của chính họ, biết tự lực phát hiện và giải quyết vấn đề gặp phải thì sẽ tạo cho họ lòng ham học. Học tập Toán, Văn, Lý, Hóa, Anh hay bất cứ môn học nào không thể không đi theo xu thế đó. 

Khi thầy cô giáo hướng dẫn học sinh cấp 2, cấp 3 tự học, tự có được một cách học, lộ trình học đúng đắn thì việc giảng bài cho học sinh sẽ dễ dàng hơn.

6 biện pháp để giúp học sinh cấp 3 tự học tôt hơn|Dành cho thầy cô

6 biện pháp để giúp học sinh cấp 3 tự học tôt hơn|Dành cho thầy cô

Biện pháp 1: Tạo động cơ, cảm hứng kích thích nhu cầu tự học của học sinh;

Biện pháp 2: Tăng cường tổ chức hoạt động nhóm;

Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập;

Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh kĩ năng sử dụng tài liệu;

Biện pháp 5: Hướng dẫn học sinh tự học trên lớp, tự nghe giảng và tự ghi chép;

Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức;

6 biện pháp để hướng dẫn học sinh cấp 3 tự học hiệu quả

Khi thầy cô giáo áp dụng được các biện pháp này không chỉ hỗ trợ học viên học hiệu quả, chúng còn giúp giáo viên dạy tốt hơn, tăng kết nối giữa các bạn học, giữa thầy cô và học sinh

Biện pháp 1: Tạo hứng thú kích thích nhu cầu tự học của học sinh

Hứng thú là một thuộc tính tâm lý – nhân cách của con người. Hứng thú đóng một vai trò rất quan trọng trong lao động trí tuệ và lao động chân tay. Cùng với sự tự nhận thức, hứng thú tạo ra cảm giác chủ động, giúp học sinh học tập để đạt được kết quả cao, có khả năng kích thích nguồn sáng tạo. Trong khi đó, khảo sát thực tế về giảng dạy ở trường trung học theo nhiều cách (lấy bảng câu hỏi từ các cấp quản lý giáo dục, giáo viên, phụ huynh và học sinh, quan sát và làm bài kiểm tra khách quan về học sinh) đã cho thấy nhiều học sinh không có cảm hứng để học. Điều này được lý giải rằng nguyên nhân cơ bản của việc chất lượng chưa ở một số lớp dạy.

Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên quan niệm rằng truyền hứng thú và đánh thức khả năng tự tư duy, suy nghĩ của học sinh là bản chất của quá trình dạy học. Việc truyền hứng thú cho học sinh xuất phát từ ba luận điểm cơ bản:

Một là hiệu quả thực sự của việc dạy học sinh tự suy nghĩ; tự nâng cao kiến thức và kĩ năng tự đào tạo.

Thứ hai, nhiệm vụ khó khăn và quan trọng nhất đối với giáo viên là làm cho học sinh hài lòng.

Ba là dạy học phải làm cho học sinh cảm thấy ý nghĩa và ứng dụng của bài học vào cuộc sống hằng ngày.

giúp học sinh tự học hiệu quả

Mối quan hệ giữa “Hứng thú” và “Tự học”

Quá trình giảng dạy theo quan điểm hệ thống là một cấu trúc có nhiều thành phần, mỗi yếu tố có một vị trí và chức năng cụ thể, nhưng chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Các thành tố đó là: Mục tiêu dạy học; giáo viên và học sinh; chương trình và nội dung dạy học; phương tiện và thiết bị dạy học; môi trường dạy học.

Một số cách thức tạo hứng thú cho học sinh tự học

Từ những lập luận trên, tôi đưa ra một số cách thức tạo cảm hứng cho học sinh sau đây nhằm mục đích nâng cao năng lực tự học cho học sinh:

Thứ nhất: Giúp học sinh biết được mục tiêu, lợi ích của bài học

Hứng thú là một thuộc tính tâm lý mang đặc tính đặc thù cá nhân. Cảm hứng có tình lựa chọn. Con người chỉ quan tâm chỉ đến những đối tượng cần thiết và có giá trị, đem lại lợi ích, quyền lợi với bản thân mình. Vậy, điều gì khiến các em tò mò và thích thú? Trả lời câu hỏi này có nghĩa là giáo viên sống với đời sống tinh thần của mình, chuyển đổi các nhiệm vụ học tập khô khan để phù hợp với mong muốn, nhu cầu, sở thích và nguyện vọng của học sinh. Ở mỗi bài học cụ thể, giáo viên cần giúp cho học sinh nhận ra ý nghĩa của nội dung bài học.

Thứ hai: Tạo cho học sinh hứng thú học tập bằng cách tạo niềm tin, động lực học

Khơi dậy động lực, kích thích nhu cầu học tập của học sinh là biến mục tiêu sư phạm thành mục tiêu cá nhân, thay vì hình thành vấn đề. Còn về mặt tâm lý, mỗi con người là một chủ thể có đặc điểm cá nhân, lòng tự trọng. Lòng tin là cơ sở để giữ gìn và thể hiện sự tự trọng đó đồng thời là động lực cho mọi hành vi của con người. Sự hứng thú học tập của học sinh đƣợc tăng cường đáng kể nhờ ảnh hưởng của giáo viên.

Thứ ba: Tạo hứng thú học tập bằng cách đặt nhiều góc nhìn, cách giải vô 1 bài tập

Biện pháp 2: Tăng cường tổ chức hoạt động nhóm

Hoạt động nhóm giúp quá trình học tập diễn ra tích cực và hiệu quả, rèn luyện kĩ năng làm việc tập thể, phát triển kĩ năng tự học cho học sinh. Thông qua các hoạt động nhóm các tiết học trở nên linh hoạt, tạo không gian hoạt động đa dạng, nâng cao khả năng hợp tác giữa GV với HS, giữa HS với HS; tạo cơ hội cho HS tự nghiên cứu, tự thể hiện khả năng của mình, tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và phát triển toàn diện nhân cách. Để rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm cho HS, GV có thể thực hiện theo 03 bước (giai đoạn) cơ bản như sau:

Bước 1: Giới thiệu chủ đề và phân công nhiệm vụ.

Bao gồm các hoạt động như sau:

– Giới thiệu chủ đề chung của giờ học: nhiệm vụ này thường do GV thực hiện để dẫn dắt bắt đầu một nội dung kiến thức mới. Đôi khi có thể là đại diện nhóm lên trình bày nội dung nghiên cứu của nhóm, các nhóm cần có sự thống nhất và chuẩn bị truớc cùng GV.

– Giáo viên thành lập các nhóm làm việc: lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ.

+ Chia nhóm một cách ngẫu nhiên. Chẳng hạn: GV có thể chia nhóm theo tổ, theo bàn, theo số thứ tự,…

+ Chia nhóm theo năng lực học tập: GV dựa vào năng lực học tập của HS để chia thành các nhóm giỏi, khá, trung bình, yếu.

+ Chia nhóm và cố định nhóm đó trong một thời gian dài. Số lượng nhóm, số lượng thành viên trong nhóm và thời gian thảo luận tùy thuộc vào số lượng sinh viên trong lớp hoặc nội dung thảo luận.

– Phân công nhiệm vụ cho nhóm: GV xác định và giải thích nhiệm vụ cụ thể giữa các nhóm, xác định rõ những mục tiêu cần đạt, thời gian thực hoạt động nhóm.

Bước 2: Làm việc theo nhóm.

Trong giai đoạn này, các nhóm tự thực hiện các nhiệm vụ được giao, trong đó có các hoạt động chính sau:

– Bầu ra trưởng nhóm, chuẩn bị, sắp xếp nơi làm việc của nhóm: cần sắp xếp sao cho các thành viên có thể ngồi đối diện với nhau để thảo luận.

Hoạt động này được GV trợ giúp và cần diễn ra nhanh để tiết kiệm thời gian.

– Lên kế hoạch hoạt động và thực hiện nhiệm vụ của nhóm:

+ Chuẩn bị bài, dụng cụ học tập, đọcách và tài liệu tham khảo;

+ Nhóm trƣởng phân công công việc cho từng thành viên;

+ Liệt kê các công việc cần làm của nhóm;

+ Mỗi cá nhân thực hiện nhiệm vụ đã phân công, sắp xếp kết quả theo một trình tự khoa học;

+ Phân công các thành viên trình bày kết quả học tập của nhóm. Khi thực hiện bước này, GV cần quan sát, hỗ trợ HS. Trong quá trình HS thảo luận nhóm, GV di chuyển xung quanh các nhóm, quan sát và hỗ trợ các nhóm khi cần. Khi HS gặp khó khăn, vướng mắc, GV có sự hỗ trợ kịp thời, hướng dẫn các nhóm giải quyết.

Bước 3: Thuyết trình và đánh giá kết quả.

Đại diện các nhóm sẽ lên trình bày kết quả trước lớp, có thể kèm theo các bản báo cáo, minh họa bằng hình vẽ. Kết quả trình bày của mỗi nhóm được các bạn HS trong lớp và GV tổng kết, đánh giá, rút ra kinh nghiệm cho các lần thực hiện tiếp theo

Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập

Hiện nay, đa số học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập còn mang tính “ngẫu hứng”, chưa xác định rõ mục tiêu học tập, chưa hình dung được toàn bộ quá trình tự học của mình đang và sẽ diễn ra nhƣ thế nào. GV cần hướng dẫn HS lập kế hoạch học tập khoa học, với các nhiệm vụ học tập vừa sức, phù hợp với nội dung, điều kiện, thời gian của các emSau khi HS đã xây dựng kế hoạch học tập, GV cần có sự kiểm tra, sau đó nhận xét, góp ý về kế hoạch học tập của các em. Đồng thời đưa ra các yêu cầu để HS thực hiện tốt kế hoạch học tập:

– Thực hiện kế hoạch học tập một cách khoa học, sử dụng hợp lý quỹ thời gian học tập;

– Có phương pháp tự học khoa học, kế hoạch và thời gian biểu tự học phù hợp với điều kiện của bản thân.

Do vậy, nếu HS xây dựng được kế hoạch học tập đúng đắn, khoa học sẽ giúp các em nhanh chóng đạt được mục tiêu đã đề ra. Người học cần có biện pháp để thực hiện kế hoạch đề ra và có thể tự điều chỉnh kế hoạch một cách linh hoạt nhằm đạt được các mục tiêu học tập.

Các bước hình thành kĩ năng lập kế hoạch học tập

Bước 1: Xác định mục tiêu học tập

Bước 2: Hình thành các nhiệm vụ học tập

Bước 3: Lập danh sách các hoạt động học tập

Bước 4: Dự tính các hoạt động bất thƣờng và khó khăn có thể xảy ra

Bước 5: Xác định các điều kiện và phƣơng tiện thực hiện

Bước 6: Phân bổ thời gian

Bước 7: Đánh giá công việc theo kế hoạch

Mẫu kế hoạch học tập về thời gian tự học của cá nhân trong tuần

kế hoạch học tập cho học sinh

Bảng kế hoạch học tập

Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh kĩ năng đọc tài liệu

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh để học sinh biết đọc sách và có thói quen đọc sách, đặc biệt đọc nội dung bài học trƣớc khi đến lớp điều này phải làm trong suốt quá trình dạy học.

Trong quá trình dạy học, giáo viên không chỉ cung cấp kiến thức cho học sinh mà còn cần trang bị cho các em ý thức tự giác học tập, có phương pháp tự học, tự củng cố, phát triển kiến thức trước và sau giờ học, hình thành một số kĩ năng tự học nhƣ: kĩ năng thu thập tài liệu, kĩ năng đọc sách giáo khoa, tài liệu tham khảo… Để lĩnh hội được những tri thức cần thiết, học sinh cần nghiên cứu sâu cuốn sách. Công việc này đòi hỏi học sinh cần có kĩ thuật đọc. Kĩ thuật đọc phụ thuộc vào mục tiêu của người đọc, được thể hiện thông qua cách đọc. Học sinh có thể sử dụng một số cách đọc sau dựa trên mục tiêu đọc của cá nhân:

  • – Đọc lướt nhanh: Nhằm nắm được chủ đề và ý tƣởng trong tài liệu đọc.
  • – Đọc có từng phần (hay đọc trọng điểm): là cách đọc từng đoạn, từng phần trong dự định từ trƣớc nhằm tập trung thời gian cho những nội dung cần thiết để hiểu và nghiên cứu sâu hơn;
  • – Đọc toàn bộ nhưng không nghiên cứu sâu: Cách đọc này nhằm khái quát toàn bộ nội dung cuốn sách mà không đi sâu vào từng nội dung cụ thể. Với cách đọc này, người đọc có thể nắm được ý tưởng chính cũng nhƣ nội dung chính của cuốn sách;
  • – Đọc kĩ và nghiên cứu sâu nội dung: Đây là phương pháp đọc quan trọng và cần thiết nhất để tự nghiên cứu để hiểu nội dung của cuốn sách. Từng nội dung, từng vấn đề đều được độc giả xem xét và nghiên cứu kỹ luỡng. Nội dung và ý tưởng của cuốn sách được độc giả đánh giá, phê bình và hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc.
6 biện pháp để giúp học sinh cấp 3 tự học tôt hơn|Dành cho thầy cô

6 biện pháp để giúp học sinh cấp 3 tự học tôt hơn|Dành cho thầy cô

Biện pháp 5: Hướng dẫn học sinh tự học trên lớp, tự nghe giảng và tự ghi chép

Nghe giảng và ghi chép là kĩ năng không thể thiếu ở HS trong quá trình học tập. Để việc nghe và ghi chép có hiệu quả, HS cần xác định phƣơng pháp và phƣơng tiện sao cho ghi nhanh, ghi đúng, ghi đủ nội dung kiến thức mà vẫn không ảnh hƣởng đến việc nghe giảng.

Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh những nguyên tắc chính của hoạt động nghe – ghi chép.

Tập trung vào giám sát để hiểu thông tin logic của bài giảng, điều này được tiến hành song song với việc ghi lại bài học.

Ghi chú bài giảng trên cơ sở hiểu vấn đề và viết nó theo cách riêng của họ, nội dung: tóm tắt vấn đề, ghi lại các vấn đề chính, ghi lại các vấn đề mà mình chưa hiểu.

Có một thái độ độc lập với những gì giáo viên đƣa ra: cần có sự hoài nghi và tự hỏi khi thông tin bài học được đưa ra.

Việc ghi chép có thể được thực hiện qua các bước:

– Xác định nội dung chính để ghi khi nghe giảng;

– Đối chiếu những kiến thức trong bài giảng với nội dung kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa;

– Sắp xếp những nội dung đó theo trình tự cấu trúc của bài học;

– Lựa chọn các kí hiệu, từ khóa và mã hóa chúng trên sơ đồ kiến thức để ghi theo ý hiểu của bản thân;

– Đánh dấu những phần kiến thức chưa nghe rõ hoặc chưa hiểu bằng những câu hỏi cụ thể. Đánh dấu những phần kiến thức có thể mở rộng;

– Đọc lại những nội dung đó

Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa kiến thức

  • Phân tích, tổng hợp là kĩ năng rất quan trọng giúp người học phát triển năng lực nhận thức của bản thân, có khả năng khái quát, hệ thống hóa tài liệu dướii hình thức làm dàn ý, đề cương, sơ đồ, mô hình và giúp họ dễ dàng nắm được tài liệu nghiên cứu một cách tổng quát, hệ thống và toàn diện.
  • Trong dạy học, ngoài việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng phân tích, tổng hợp, giáo viên còn phải đặc biệt chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng khái quát hóa. Khái quát hóa là chuyển từ một nhóm các đối tượng sang một nhóm lớn hơn chứa nhóm ban đầu bằng cách nêu bật một số trong các đặc điểm chung của các phần tử của nhóm ban đầu.

Có hai con đường khái quát hóa:

  • Con đường thứ nhất trên cơ sở so sánh những trường hợp riêng lẻ
  • Con đường thứ hai không dựa trên sự so sánh mà dựa trên sự phân tích chỉ một hiện tượng trong hàng loạt hiện tượng giống nhau.
  • Như vậy trong quá trình phân tích, tổng hợp kĩ năng khái quát hóa rất cần thiết

Bài viết: tham khảo ý kiến củaThạc sĩ Anh Tuyết